Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nữ - từ góc nhìn về quan niệm giới
Cập nhật lúc: 11:15 - 16/02/2017 Lượt xem: 668

    Nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nữ nói riêng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, trong quản lý nhà nước và đã từng bước chú trọng xây dựng, hoàn thiện và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ nói chung, về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nói riêng. Tuy nhiên, thực tế nguồn nhân lực nữ chưa được khai thác hiệu quả, phần nào họ chỉ tham gia mang tính đại diện mà chưa thực sự giải phóng tiềm năng để phát huy hết năng lực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Có lẽ, một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ rào cản định kiến giới đối với phụ nữ. Định kiến này bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo "trọng nam khinh nữ" và khắc sâu trong gia đình, trong xã hội, trong công sở và thậm chí ngay cả bản thân họ cũng tự tạo ra định kiến cho mình.

 

    Định kiến giới về phụ nữ trong gia đình

    Quan niệm về giới trong gia đình ở Việt Nam bị ảnh hưởng của thuyết tam tòng, tứ đức. Tư tưởng này cho rằng công việc nội trợ là của phụ nữ, đàn ông không có nhiệm vụ hoặc nếu có làm việc nhà thì mặc nhiên đó là đang giúp đỡ vợ. "Theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, 82,5% người vợ làm các công việc nội trợ gia đình và chỉ có 3,5 % người chồng làm việc này"[i]. Trách nhiệm quá nặng đối với công việc gia đình là một trong những cản trở phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo và ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng tham chính của cán bộ nữ. Đâu đó trong xã hội hiện nay có những người không ủng hộ hay tạo điều kiện cho vợ phấn đấu trong lĩnh vực xã hội. Phụ nữ đã có quá đủ rào cản trong sự nghiệp, nếu giờ đây họ còn phải lo ngại mình sẽ làm phiền lòng người chồng với thành công của mình thì làm sao chúng ta có hi vọng được sống trong thế giới bình đẳng. Khả năng đóng góp công việc của người phụ nữ còn bị cản trở do thiên chức làm mẹ. Thông thường lứa tuổi từ 22 tuổi đến 35 tuổi là giai đoạn cần phải đầu tư tối đa cho sự nghiệp nhưng đó cũng chính là thời điểm đồng hồ sinh học đề nghị chị em phải giành thời gian cho việc thực hiện thiên chức phụ nữ là sinh đẻ và chăm sóc con cái.

 

    Tóm lại, theo quan niệm giới trong gia đình, người phụ nữ dẫu có đảm việc nước vẫn phải giỏi việc nhà thì mới được coi là vẹn toàn. Quan niệm người mẹ, người vợ lo cho gia đình nhiều hơn cho công việc đang làm hạn chế sự đóng góp phụ nữ vì các nhà lãnh đạo cho rằng người phụ nữ sẽ không thể hi sinh cho công việc do vậy sẽ hạn chế hơn sự tham gia của phụ nữ trong những việc quan trọng, cộng đồng coi việc nhà là trách nhiệm của phụ nữ do đó thiếu sự chia sẻ của gia đình cho nữ tham chính.

 

    Định kiến giới về phụ nữ trong xã hội

    Định kiến giới về năng lực của phụ nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của cả hai giới rằng: Phụ nữ không đủ mạnh mẽ để làm lãnh đạo, nam giới không có khả năng chăm sóc gia đình, con cái. Phụ nữ bị coi là những người có số xấu, đen, đem lại những điều không may mắn như "ra ngõ gặp gái". Họ bị coi là ngu dốt, thiếu kiến thức: "Đàn ông nông cạn giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu"… Chính từ những định kiến đó mà trong công việc, xã hội đánh giá năng lực của nam cao hơn; các kỳ vọng đối với cán bộ nam bao giờ cũng tốt hơn và cái nhìn đối với cán bộ nữ bao giờ cũng khắt khe hơn. Điều này vô hình trung chưa phản ánh đúng, đầy đủ về vai trò, năng lực của phụ nữ trong các khía cạnh khác của đời sống chính trị - xã hội - gia đình, làm hạn chế khả năng phát triển của phụ nữ. Bên cạnh đó, quan niệm về giới của xã hội được bắt đầu thâm nhập vào các bé gái từ giai đoạn tuổi thơ, củng cố thường xuyên trong suốt cuộc đời và trở thành lời tiên tri tự đúng. Những thông điệp dành cho bé gái (con gái phải dịu dàng, không được to tiếng cãi nhau, không được mạo hiểm…) không chỉ khuyến khích phát triển những tính cách hời hợt mà còn có khuynh hướng ngăn cản xu hướng lãnh đạo. Do quan niệm của xã hội, đa số các vị trí lãnh đạo là nam giới và phụ nữ từ thuở bé không kỳ vọng sẽ đạt được và nó trở thành lý do khiến họ không đạt vị trí lãnh đạo.

 

    Định kiến giới về phụ nữ trong công sở

    Quan niệm trong phân công công việc theo giới cho rằng nam giới vốn có khả năng lãnh đạo bẩm sinh, tốt hơn phụ nữ, vì thế tuy sự ủng hộ phụ nữ tham chính có tăng nhưng thực tế phụ nữ chưa phải là lựa chọn đầu tiên. Trong công sở, nam giới thường xuyên được hoan nghênh vì có khát vọng, quyền lực và thành công, nhưng nếu phụ nữ thể hiện những tính cách này, họ phải gánh chịu sự đày đọa của dư luận. Với quan niệm này, phụ nữ sẽ phải tiếp tục hi sinh sự yêu quý để đánh đổi lấy thành công. Thiết nghĩ, thực tế hiện nay do có quá ít phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo nên dễ bị ganh tị, đố kỵ, nếu 50% phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo, việc ganh ghét với quá nhiều người như vậy sẽ khó xảy ra, đến lúc đó, lãnh đạo nữ sẽ không còn rào cản để thẳng tiến trên con đường sự nghiệp. Thiên vị giới tác động đến nhìn nhận về kết quả làm việc và thường làm tăng đánh giá về nam giới trong khi làm hạ thấp đánh giá về phụ nữ[ii]. Không ít cán bộ nữ dù đã được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo nhưng chưa được đánh giá là có năng lực thực sự so với nam giới do vẫn có dư luận cho rằng việc bổ nhiệm chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm bảo tỷ lệ nữ tham chính hoặc có mối quan hệ thân quen nào đó.

 

    Trong công sở, vai trò của người cố vấn hay người bảo trợ rất quan trọng. Họ là người có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, sẽ chia sẻ kiến thức, kỹ năng, giúp đỡ và hỗ trợ cho nhân viên cấp dưới phát triển. Nếu nam giới thường xuyên và dễ dàng có cơ hội gặp gỡ lãnh đạo nam để chia sẻ, bàn bạc công việc, tạo mối quan hệ phát triển thì phụ nữ cấp dưới lại tránh tiếp xúc gần gũi với lãnh đạo nam. Chính sự suy diễn này gây ra rào cản cho phụ nữ, hạn chế khả năng tích lũy kinh nghiệm, phát triển các mối quan hệ chính đáng trên con đường chức nghiệp.

 

 

    Định kiến từ chính bản thân người phụ nữ

    Thực ra, nhiều phụ nữ không quan tâm đến quyền lực, không phải vì họ không có khát vọng mà vì họ đang sống cuộc đời đúng như họ mong muốn. Đối với họ, cuộc sống không chỉ là cố gắng phấn đấu trên nấc thang sự nghiệp, mà chỉ là nuôi dạy con cái, đóng góp cho xã hội và làm cho cuộc sống của người khác tốt đẹp hơn. Phụ nữ tự nguyện hạ thấp kỳ vọng về bản thân mình và chấp nhận hạ thấp mục tiêu sự nghiệp để nhường chỗ cho bạn đời và con cái. Nam giới có mục tiêu phấn đấu đảm nhận vị trí lãnh đạo cao hơn phụ nữ và lẽ dĩ nhiên họ có nhiều cơ hội để đạt được vị trí này hơn. Sợ hãi là gốc rễ của nhiều rào cản mà phụ nữ phải vượt qua: Sợ không được yêu quý, sợ bị người khác đánh giá không hay, sợ thất bại và nỗi sợ lớn nhất - sợ là một người mẹ, người vợ không tốt. Trong tất cả những rào cản do phụ nữ tự gây ra, vấn đề phổ biến nhất là họ đã từ bỏ trước khi họ thật sự rút lui. Biểu hiện của sự sợ hãi còn thể hiện khi tham dự các cuộc họp. Nếu để ý, tại các cuộc họp, chúng ta sẽ thường thấy đại biểu nữ chọn vị trí ngồi tránh xa người chủ trì, ở hàng ghế cuối dù họ là đại biểu được mời chính thức. Tại cuộc họp, phụ nữ có khuynh hướng ít phát biểu, ít giơ cao tay để được phát biểu, họ giống như người quan sát hơn người tham dự. Điều này hạn chế khả năng nêu quan điểm, đóng góp ý kiến và khẳng định năng lực bản thân. Bản thân một bộ phận cán bộ nữ không chỉ thiếu tự tin về năng lực, khả năng lãnh đạo của mình, do đó chưa phát huy hết khả năng của mình mà còn thiếu niềm tin về năng lực của người cùng giới để có tiếng nói chung và hành động mạnh mẽ trong việc ủng hộ, tín nhiệm, chia sẻ.

 

    Nhìn chung, phụ nữ hiện nay chịu rất nhiều rào cản để có thể tham gia đóng góp xã hội và xây dựng đất nước. Mọi giải pháp về thể chế bình đẳng giới sẽ chỉ là hình thức và chẳng thể nào đạt được mục tiêu đề ra nếu định kiến giới chưa được xóa bỏ. Xác định những rào cản cụ thể đối với sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý dưới góc độ quan niệm giới có ý nghĩa tiên quyết để để tìm các giải pháp thiết thực nhằm giải phóng tiềm năng của phụ nữ, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Thiết nghĩ, nếu các rào cản này được dỡ bỏ thì việc đảm bảo cho sự đại diện bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị là điều dễ dàng từ đó giúp khai thác tối đa nguồn lực nhân lực nữ và hoàn thành cam kết quốc tế về mục tiêu bình đẳng giới mà Liên Hợp Quốc đặt ra[iii].

 

Mai Kim Anh

 

Tài liệu tham khảo


[i] Nguyễn Thị Vân, Luận án Tiến sĩ triết học, Thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với người Việt Nam hiện nay, 2014, Trang 65.

[ii]Rhea E. Steinpreis, Katie A. Anders, và Dawn Ritzke, "The Impact of gender on the review of curricula vitae of  job applicants and tenure candidates: A National empirical study", Sex roles 41,1999.

[iii] Pippa Norris (2012), Bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử ở Châu Á – Thái Bình Dương: Sáu hành động tăng cường trao quyền cho phụ nữ, trang 6.

iv Lois P.Frankel, (2009), Phụ nữ thông minh không ở góc văn phòng, Nxb Tri thức, Hà Nội, 261 trang.

vwww. Eowp.net (UNDP – Phụ nữ tham chính tại Việt Nam- Chương trình Lãnh đạo nữ Cambridge-Việt Nam: Nâng cao năng lực lãnh đạo cho Phụ nữ trong khu vực nhà nước trong bối cảnh Hội nhập Kinh tế quốc tế".

vi Sherryl Sandberg – Nell scovell, Dấn thân, nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 280 trang.

vii Tuminez, Astrid.2012. "Vươn tới đỉnh cao" Báo cáo về Phụ nữ lãnh đạo ở Châu Á.

viii Vụ Bình đẳng giới, (năm 2014), Sổ tay truyền thông thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, nxb Hồng Đức, Hà Nội, 158 trang.

 

         
Tin cùng chuyên mục




Thống kê truy cập Thống kê truy cập

3 6 1 1 3 5 0 7
Hôm nay: 4.523
Hôm qua: 15.720
Tuần này: 45.174
Tháng này: 346.855
Tổng cộng: 36.113.507